Tiếng mẹ gọi chiều đông
2016-09-12 01:15
Tác giả:
“Chi, Lệ ơi đun nước cho mẹ chưa?”
Tôi vẫn nhớ như in những chiều mùa đông ấy, tiếng mẹ tôi vọng vào từ đầu ngõ, đôi chân trần lấm màu cát, màu bùn, cả thân hình ướt sũng giữa trời đông. Cái hơi lạnh khô của gió mùa đông bắc ấy ăn sâu vào tiềm thức mỗi chúng tôi, cái lạnh đến cắt da, cắt thịt, cái lạnh mà đạp cái xe cà-tàng bánh thồ nặng trịch răng vẫn đập vào nhau, thế nhưng mẹ tôi vẫn ngụp dưới con ngòi hàng tiếng đồng hồ.
Tôi ghét mùa đông, mùa mà nước rút nhanh, mùa chẳng mưa giông bão lũ để con ngòi cạn nước, để mẹ tôi không thể ngụp người trong giá lạnh.
Tôi ghét mùa đông, ghét cả tiếng gọi ban chiều của mẹ bởi ngày nào không có tiếng gọi ấy là ngày đó có mẹ mâm cơm không lạnh ngắt.
Tôi lớn lên cùng những chiều đông ấy, khi bữa cơm trưa chỉ có hai chị em ngồi chống đũa dưới manh chiếu giữa nhà. Mẹ tôi thường vác cào, vác thau ra ngòi từ cuối buổi sáng, khi trong xóm hun hút khói thổi cơm trưa sau khi ăn vội lưng cơm nguội ban sáng. Lịch trình ấy cứ lặp đi lặp lại cho đến hết mùa nước rút, đều đặn như tiếng kẻng nhà thờ làng bên ngân vào mỗi giờ Hoàng đạo. Trước khi đi không quên dặn chị em tôi chiều tối đun cho mẹ siêu nước để mẹ tắm, nhưng chẳng phải khi nào chúng tôi cũng nhớ. Gót chân của những đứa trẻ chín, mười tuổi đầu nhiều ham chơi nên quên cả lối về, cho tới khi có tiếng gọi vang lên từ phía đầu ngõ hay cổng nhà mới chợt giật mình thảng thốt, hệt như tiếng chuông gió lanh lảnh vang lên giữa một khoảng trời im gió.
Năm tôi lên mười một, mùa hè năm ấy nắng gắt mà hiếm mưa, lúa mất mùa, cả cánh đồng thấp thoáng bóng lúa bị cờ trắng tựa ngọn lau, ôm đon lúa nhẹ tâng đầy hụt hẫng, đến cả rơm cũng chẳng được đống to như mọi năm. Mỗi lần tôi đun bếp, mẹ hay quay ra răn đe:
“Đốt vừa thôi không mấy bận nữa đút đầu vào bếp mà nấu cơm con ạ!”

Tôi nghe cũng như không, vâng vâng, dạ dạ xong rơm lại tống đầy cửa bếp và cho lửa cháy thật to để cơm nhanh chín, nước nhanh sôi. Mùa đông ấy, chúng tôi ít phải nhặt hến hơn cho dù chiều nào mẹ cũng trở về với thân hình ướt sũng. Hai đứa tôi cho rằng người ta đã mua ngay trên bờ cho nên mẹ không phải mang về nhà cho chúng tôi nhặt nữa, cái Lệ có vẻ vui rõ rệt vì ý nghĩ đó. Chúng tôi vẫn không hay biết, tay mẹ đầy rẫy những vết xước, ngay cả vai, cả chân cũng có vết gai cào, cho tới khi bà Năm cất tiếng sang sảng ở cổng nhà tôi:
“Cái Chi, cái Lệ đâu rồi, lấy cho mẹ mày cái áo mí cái quần nhanh lên”.
Linh cảm cho tôi hay có điều gì đó chẳng lành, tôi hớt hải đưa cho bà Năm bộ quần áo rồi đôi chân cứ thế chạy theo…. Cái Lệ chạy không kịp tôi, nức nở khóc. Tôi cũng khóc, khóc cho dù chả biết tại sao. Phải chăng bởi chúng tôi là khúc ruột của mẹ nên ở ngực có cái gì nhoi nhói chẳng lành? Tôi chạy đến nỗi hai đôi chân cứ díu vào nhau, đua nhau đòi bước trước, đường ra con ngòi chi chít những đá và gạch mẩu nằm ngổn ngang trên những dải đất đỏ bị rửa trôi trơ lên những hòn đá bằng ngón cái, ngón trỏ. Tôi vấp ngã, một lần, hai lần… nhưng rồi vẫn đứng lên mà chạy. Lần đầu tiên đôi chân ấy không biết đau cho dù chầy xước và rỉ máu. Cái Lệ không kịp bước tôi, nó ngồi bệt xuống đường nức nở, hai gót chân cứ di di xuống đất. Tất cả trong chúng tôi bấy giờ là một nỗi sợ cho dù là vô hình, cho dù chỉ là linh cảm của hai đứa trẻ…
Mẹ tôi môi nhợt nhạt, cả thân hình lạnh ngắt với những hơi thở thoi thóp. Dường như bấy nhiêu đó là cả một sự gồng mình gắng gượng. Bà Năm đút cho mẹ tôi muỗng chén nước gừng, các bác, các cô đốt lửa bằng những cành xí hổ mà ai đó là chặt gọn và phơi khô bằng cái nắng hanh đầu đông…. Cái quang cảnh ấy làm một đứa trẻ mười một tuổi đầu như tôi hoảng sợ, tôi gào khóc và ra sức lay mẹ, trong trí tôi lúc ấy mập mờ những mảnh ghép năm tôi năm tuổi, khi ngoại tôi mất vì cảm lạnh. Cái đầu với hai bím tóc đã rối cứ lắc nguầy nguậy và ra sức lay mẹ tỉnh dậy. Cái Lệ chẳng biết đứng sau lưng tôi tự khi nào, tay phải nó túm chặt lấy vai áo tôi, trán toát mồ hôi. Nó ngây thơ hỏi trong tiếng thở gấp:
“Mẹ buồn ngủ quá nên ngủ quên cả ngoài ngòi hả chị?”
Đôi mắt tèm nhem nước của nó nhìn tôi, tôi càng nức nở. Có một cái gì đó đè chặt trên ngực tôi, tôi ngả đầu lên nồng ngực mẹ - ở đó vẫn còn hơi ấm….

Mẹ tôi nằm viện được năm ngày thì khỏe hơn đôi chút, cho dù ngày vẫn phải tiếp hai chai nước, ăn vẫn phải đút từng thìa cháo nhỏ nhưng mẹ đòi xuất viện với lí do: mùi bệnh viện khó chịu. Những ngày mẹ vắng nhà cái Lệ đột nhiên ngoan lạ thường, chiều nào nó cũng đun một siêu nước thật to, có hôm sợ nước nguội nó ngồi đun mãi, đun đến nỗi nước gần đến đáy siêu. Nghe bà Năm nói với mấy bác hàng xóm rằng mẹ tôi đi chặt những cây trinh nữ ở ven ngòi để phơi khô rồi làm củi đun, sáng thì chặt trên bờ, chiều thì lội xuống ven ngòi. Bà còn nói:
“Thôi thì nó cứ mò hến bắt chai có khi còn không cảm lạnh, chứ lội chặt củi nước ngang người rét gấp vạn lần ngụp sâu, có ngày chết oan, nó chết thì khổ mấy mống con…”.
Cứ thế khóe mắt tôi lại cay, cắn môi thật chặt để không òa lên nức nở…
Những ngày sau đó, tôi mang cái vỏ bao đạm của mẹ ra những bờ tre quét lá, cái Lệ cũng đòi vác chổi theo sau. Ngày mẹ về nhà chúng tôi đã chất trật bếp lá tre khô chỉ còn vẻn vẹn một khoảng trống nhỏ để ngồi đun bếp. Mẹ tôi cau mày yếu ớt:
“Các cô để thế kia có ngày đốt bếp của tôi cũng nên….”
Đông năm nay tôi ở trên Hà Nội, đi bộ vỉa hè đường Giải Phóng mùi cháo chai nức lên tận sống mũi, cứ thế là nước mắt lại trực trào nơi khóe mắt. Chuông điện thoại reo, tôi nghe tiếng mẹ tôi thì thầm ấm áp:
“Hà Nội lạnh lắm phải không con, nhớ đừng quên bật nóng lạnh mà tắm nước lã…”
“Vâng mẹ! Nhưng Hà Nội vẫn ấm lắm mẹ ạ, ấm hơn trăm ngàn lần cái rét của con ngòi quê mình mẹ ơi!”
© Bướng – blogradio.vn
Có thể bạn quan tâm: Về nhà thôi hạnh phúc đây rồi
Phản hồi của độc giả
Xem thêm
Thế giới song song của tuổi 17
Giấc mơ tuổi 17 đưa tôi trải qua một đời người trưởng thành cô độc, để rồi khi bừng tỉnh giữa gian bếp ngập nắng, tôi mới vỡ òa nhận ra thực tại bình dị bên bố mẹ và em gái mới là hạnh phúc vô giá nhất
Cảm ơn vì đã là một phần thanh xuân của tôi
Mười hai năm. Một chặng đường đủ dài để trở thành một phần thanh xuân. Cảm ơn tất cả. Hẹn gặp lại ở một phiên bản tốt hơn của chính mình và vẫn luôn mang theo niềm tự hào vì đã từng là một phần của đại gia đình này
Ánh Trăng Sáng Rơi Vào Lưới - Chương 1
Bữa tiệc kỷ niệm thành lập tập đoàn Hạ Thị được tổ chức tại sảnh tiệc của một khách sạn sáu sao ngay trung tâm thành phố. Tiếng ly thủy tinh va chạm lách cách, tiếng nhạc vĩ cầm du dương và những bộ lễ phục đắt đỏ của giới thượng lưu dệt nên một khung cảnh hoa lệ đến ngột ngạt.
Chiếc Vé Đến Ngày Hôm Qua
Mười năm trước, chúng tôi chỉ là những đứa trẻ mười mười tám tuổi, sở hữu cả bầu trời ước mơ ngây ngô cùng lời hứa về một chiếc vé thời gian giá hai mươi nghìn đồng. Mười năm sau, giữa cơn mưa rào tháng Bảy, liệu hai mươi nghìn đồng có giúp chúng tôi tìm lại được thanh xuân đã bỏ lỡ?
Những người không giàu_Phần 1
Có những cuộc đời sinh ra không để trở thành giàu có. Họ sống giữa phố thị hoặc làng quê, lặng thầm làm thuê, tích góp từng đồng lẻ, gánh trên vai những nỗi lo cơm áo, bệnh tật, hiếu nghĩa, và cả những giấc mơ chưa bao giờ gọi thành tên. Họ khắc khẩu, cãi vã, bướng bỉnh, yếu đuối, rồi lại ôm nhau mà cười, mà khóc, mà gắng gượng đi tiếp qua những mùa giông gió. Họ không giàu, nhưng họ dựng nên một mái nhà bằng lòng thương, bằng sự nhẫn nại và một niềm tin cũ kỹ rằng: dẫu nghèo đến đâu, cũng còn có nhau để quay về.
Hương vị bình yên
Mỗi độ hè về, mẹ lại cầm chiếc rổ tre ra vườn hái rau sắn. Tôi lon ton theo sau, vừa phụ mẹ ngắt lá, vừa nghe mẹ khe khẽ hát vài câu dân ca. Tiếng chim, tiếng gió và tiếng hát của mẹ hòa vào nhau, dệt nên bản hòa âm dịu dàng theo tôi suốt những năm tháng tuổi thơ.
Phía sau một sự dung túng dịu dàng
Đây là một tản văn kể về tình bạn khác giới kéo dài từ những năm tiểu học đến tuổi mười bảy. Không có những rung động mập mờ hay một câu chuyện tình dang dở, bài viết là hành trình nhìn lại một người bạn đã luôn kiên nhẫn, bao dung và âm thầm dung túng những vụng về, bướng bỉnh của tôi. Qua những ký ức nhỏ bé và bình dị, tôi nhận ra điều quý giá nhất thanh xuân từng dành tặng mình không phải là một mối tình, mà là một người luôn cho tôi quyền được là chính mình.





