Nắm cơm của mẹ
2023-04-23 01:25
Tác giả:
Hoàng Ngọc Thanh
blogradio.vn - Giờ mẹ tôi đã về với cát bụi. Rũ bỏ mọi đau đớn nhọc nhằn của một kiếp người. Thỉnh thoảng, tôi làm cơm nắm cả nhà cùng ăn, để nhớ về những ngày xưa khổ cực, để nhớ mẹ sống một đời giản dị mà vô cùng vĩ đại trong tâm tưởng của con cháu chúng tôi.
***
Sáng nay ngồi trên xe nhìn ngắm phố phường, bảng hiệu “Cơm kẹp” bỗng đập vô tầm mắt tôi. Tuy chưa ăn món của cửa hiệu này nhưng tôi đoán ngay được cách chế biến. Cơm nấu vừa ăn không quá khô hay quá nhão, lúc còn ấm đem ép lại cho chặt. Rồi kẹp với thức ăn khô như gà chiên, thịt chiên, dăm bông, thêm ít rau, vài món đồ chua thì không gì ngon bằng. Nói rành rẽ thế không phải vì tôi là đầu bếp giỏi giang gì, mà vì cái món giống vậy đã theo tôi suốt bảy năm thời trung học, và cái mùi vị của nó thì theo tôi đến tận bây giờ.
Thuở bé nhà tôi nghèo lắm, nhà bốn người mà chỉ có mẹ tôi là lao động chính. Mẹ tôi ốm yếu từ nhỏ. Sau một trận bệnh thập tử nhất sinh, nằm viện bảy tháng trời thì mẹ chỉ còn ba mươi lăm ký, mất sáu mươi phần trăm sức lao động. Mẹ tôi sống cùng với bệnh tim, phổi, xương khớp, thi thoảng còn thêm vài bệnh vặt khi trái gió trở trời. Vậy mà cái thân hình còm cõi đó phải gồng gánh chăm sóc hai anh em tôi khi còn nhỏ, nuôi chúng tôi ăn học. Chỉ với hai bàn tay trắng mà không có bất kì mảnh vườn miếng ruộng nào làm tài sản.
Lúc đó, bữa cơm của gia đình tôi, khi rau khi cháo, có gì ăn đó, được ba bữa là may lắm rồi. Tôi thích nhất là mùa mưa, rau cỏ sẵn có, bữa ăn nhờ vậy mà được cải thiện. Trước nhà tôi có hàng rào trồng bằng cây me thấp tè, mưa xuống đọt non lún phún. Đến bữa cắp cái rổ hái lá me non, về nấu nồi canh chua với cá khô lẹp, con cá mỏng tang nhìn thấy cả xương, vậy mà nấu canh ngọt lịm. Hoặc ra sau nhà ngắt mấy đọt rau lang mơn mởn xào tỏi, thêm vài con mắm cá, là có bữa cơm ngon lành.
Ngày mưa đất ẩm, nấm mọc trong mấy bụi chuối, nhổ về nửa kho tiêu, nửa nấu canh với lá bình bát mọc dại bên rào, thơm ngon giòn ngọt. Dây bình bát ở quê tôi khác với cây bình bát ở miền tây, lá nấu canh ăn rất ngọt, trái chín chuyển màu từ xanh thẳm sang đỏ rực, vị chua chua. Lúc nhỏ chúng tôi không có quà bánh gì, thường hái mấy trái đỏ mọng tranh nhau ăn, ăn chán rồi đem ra làm đồ hàng.
Những ngày nghỉ học, anh em tôi theo nhà hàng xóm đến ruộng đã gặt xong, bắt cua đồng hoặc mấy con cá lòng tong về làm món mặn. Có hôm cua kẹp sưng ngón tay, đau chảy nước mắt.
Hồi đấy cứ đến gần Tết, cũng là mùa gặt lúa, giá lúa rẻ, mẹ mua lúa về trữ trong nhà, để khi không làm ra tiền vẫn có gạo mà ăn. Mẹ tôi là thế, lo gần lo xa, lo mưa lo nắng, trăm bề đều lo.
Nhờ lo thế mà mẹ sợ anh em tôi thua thiệt, khổ một đời như mẹ, nên mẹ ráng chắt chiu, đói khổ mấy cũng cho hai anh em đến trường. Lúc ấy chúng tôi thuộc diện nghèo nên học phí được giảm một nửa, tập viết thì lãnh thưởng đủ xài, sách thì anh học trước để lại cho em. Chúng tôi không học thêm học bớt gì, chủ yếu là tự học ở nhà. Quần áo mặc lại của chị em họ ở thành phố, đỡ tốn kém. Thế mà cứ đến mùa tựu trường, tôi thấy mẹ thêm gầy gò, mất ăn mất ngủ, tiếng thở dài cứ tuôn ra thườn thượt.
Cấp một hai anh em tôi học ở trường làng. Từ khi học mẫu giáo, mẹ tôi đã dành thời gian dạy chúng tôi biết đọc biết viết, làm toán cộng trừ. So với các bạn đồng trang lứa thời bấy giờ thì như vậy đã là xuất sắc. Nên khi vô lớp một, tôi đứng đầu lớp. Cứ vậy mà giữ vững thành tích các năm tiếp theo.
Lên cấp hai, chúng tôi không học ở trường làng nữa, mà thi đậu vào trường của thị xã. Từ nhà đến trường khoảng năm cây số. Thời đó học sinh chỉ học một buổi, nhưng tôi học lớp chuyên toán nên học hai buổi, sáng học theo chương trình, chiều học nâng cao theo tiêu chuẩn của lớp chuyên.
Nhà xa, học xong buổi sáng tôi ở lại trường, đợi chiều học tiếp. Trường tôi học sinh mặc áo dài từ lớp sáu. Lúc ấy dáng người tôi nhỏ xíu, thụng thịnh trong bộ áo dài mặc khính, bước đi còn sợ vấp, vậy mà phải chạy chiếc xe đạp yên cao, chống chân không tới. Tôi buộc tà áo dài lại, dùng ghim túm ống quần cho bớt rộng, hì hụi trèo lên xe. Mỗi sáng đi học mẹ vịn xe cho tôi leo lên, rồi đẩy lấy đà cho tôi chạy. Lúc về thì có bạn giúp. Hôm nào đi giữa đường mà gió to quá, lỡ lảo đảo tay lái, tuột khỏi yên xe là một phen khổ sở. Hình ảnh chật vật này trái ngược với hình ảnh nữ sinh mặc áo dài trắng thướt tha, giắt nhành phượng đỏ đạp xe đi về trong phim ảnh.
Những buổi trưa ở trường của tôi như vầy: học xong thay áo dài ra mặc đồ ngắn, đợi học sinh lớp sáng về hết thì giở cơm ra ăn, rồi leo lên ghế đá trong sân trường nằm nghỉ một chút, đến đầu giờ trưa học tiếp.
Tôi nhớ thời đó, một dĩa cơm khoảng hai ngàn đồng. Trong khi, khẩu phần của cả nhà một ngày chỉ có bốn hoặc năm ngàn thì làm gì có tiền mà ăn hàng ăn quán. Thế là mẹ “cùng đi học với chúng tôi”.
Mỗi buổi sáng lúc hai anh em dậy học bài, chuẩn bị đi học thì mẹ dậy cùng, nhóm bếp củi nấu cơm. Nhà tôi không có vườn cây nên không có sẵn củi, những ngày nghỉ học anh em tôi tranh thủ vào rừng cao su nhặt về, nên mẹ dùng củi rất tiết kiệm. Khi nồi cơm đã yên vị trên bếp lửa bập bùng, mẹ ra sau nhà rọc vài miếng lá chuối, đem hong trên nắp nồi cơm cho hơi héo.
Cơm chín, mẹ bới ra tấm lá chuối đã lau sạch, cho thức ăn vào giữa, phủ cơm rồi ép lại chặt tay, gói vuông vức trông như chiếc bánh chưng vậy. Thức ăn thì vô chừng, lúc cá, lúc khô, khi thì mắm ruốc xào xả ớt – món này mẹ tôi làm ngon tuyệt. Có ngày mẹ kèm cho mỗi đứa một trái dưa leo ăn cho mát miệng.
Mẹ còn chu đáo chuẩn bị thêm cho mỗi đứa một chai nước. Lúc bấy giờ làm gì có được loại chai đẹp như Aquafina hay Lavie, mà là chai dầu ăn, mẹ đem súc cho sạch, ngâm nước lâu ngày cho bay hết mùi dầu rồi rót nước vào uống. Cái nắp chai dầu vàng chóe cứ ngoi lên khỏi miệng cặp, như tố cáo “Tui không có tiền nè”.
Tôi học lớp chuyên của tỉnh, học sinh trong lớp đa số không phải giàu có thì là quyền thế, tiền bạc được cha mẹ cho rủng rỉnh. Đến giờ giải lao các bạn đi căn tin uống nước, ăn quà bánh. Còn tôi, có khát cũng ráng nhịn không dám lấy chai nước ra uống vì mắc cỡ, vì mặc cảm. Mặc dù ý thức được nhà mình nghèo, phải tiết kiệm, phải mang cơm nước theo đi học, phải vất vưởng buổi trưa trong trường. Nhưng tuổi nhỏ, mặc cảm thì không tránh được.
Cứ thế, đều đặn tuần sáu ngày, ròng rã suốt bảy năm trời, nắm cơm của mẹ đồng hành cùng chúng tôi đến trường. Chúng tôi lớn lên nên vóc nên hình, trưởng thành là nhờ nắm cơm ấy, học được bằng này bằng nọ cũng nhờ nắm cơm ấy.
Vài phụ huynh của các bạn trong lớp biết chuyện, thương, nói tôi về nhà bạn nghỉ trưa cho đỡ mệt: “Con gái vất vưởng thế không hay.” Tôi có về nghỉ trưa ở hai gia đình tốt bụng của bạn học trong thời gian lớp tám và lớp mười hai. Nhưng chỉ tá túc chỗ ở chứ không nhờ miếng ăn. Mẹ vẫn gói cho con gái nắm cơm của mình, dặn dò:
“Ngon dỡ chi cũng là của mình, mang ơn người ta vậy đủ rồi, đừng có thành nợ rồi khó trả nghe con”. Ta nói, càng nghèo càng sĩ, cả mẹ và con đều thế.
Câu chuyện vượt khó nuôi con ăn học của mẹ, và câu chuyện vượt khó học giỏi của con đã trở thành đề tài trong các lần họp phụ huynh, mấy cô dì gặp mẹ thì bắt chuyện hỏi:
“Mẹ Ngọc Thanh đây hả, chị giỏi quá, cố gắng nha chị, ở nhà em hay đem chuyện của chị và bé Thanh ra dạy mấy đứa nhỏ”.
Mỗi lần như thế tôi thấy mẹ vui lắm, tự hào lắm. Có lẽ nhờ vậy mà tiếp thêm cho mẹ nghị lực để nuôi hai anh em tôi vào đại học, để bắt đầu con đường sự nghiệp của mình.
Sau này đi làm, anh em tôi hay đưa mẹ ra ngoài ăn món này món nọ, nhưng thỉnh thoảng vẫn thèm mùi vị của cơm nắm, của món ruốc hay món cá khô mẹ làm. Cái mùi cơm quyện mùi lá thơm lừng ấy vẫn vấn vít tôi, khiến tôi nhớ như in, nhớ những giọt mồ hôi, nước mắt, những hi sinh một đời của mẹ, của cái thân hình ốm o bệnh tật, nhịn ăn nhịn mặc cho con cho đến trường. Mẹ đã gói cả tình thương yêu vào trong nắm cơm đó.
Khoảng thời gian sau, chúng tôi có công danh sự nghiệp, nhưng mẹ vẫn chắt chiu từng món nhỏ nhặt như một thói quen đã ăn vào xương tủy. Cái áo mặc đến rách chưa chịu bỏ, cắt chỗ lành ra làm giẻ lau, cái túi nilon sạch cũng dành lại để khi cần có cái mà đựng đồ. Đặc biệt gia đình anh tôi và tôi đã thành nếp, không bỏ thức ăn thừa, lúc nấu sẽ canh vừa đủ, nếu dư thì cố ăn hết chứ không bỏ phí. Câu cửa miệng của mẹ tôi là: “Hồi đó có được vậy ăn là phước. Đồ ăn bỏ thì tội lắm.”
Mẹ tôi ngày càng già yếu, bệnh tật từ nhỏ cộng với sự khổ cực bao năm trời khiến tuổi già của mẹ bị hết bệnh này đến bệnh khác hành hạ. Có món ngon mà không ăn được, vì bác sĩ bảo kiêng, vì không có khẩu vị. Ép mẹ ăn món gì, mẹ chỉ chép miệng “Lúc trẻ ước có cái mà ăn, giờ có thì không ăn được.”
Giờ mẹ tôi đã về với cát bụi. Rũ bỏ mọi đau đớn nhọc nhằn của một kiếp người. Thỉnh thoảng, tôi làm cơm nắm cả nhà cùng ăn, để nhớ về những ngày xưa khổ cực, để nhớ mẹ sống một đời giản dị mà vô cùng vĩ đại trong tâm tưởng của con cháu chúng tôi.
© Hoàng Ngọc Thanh - blogradio.vn
Xem thêm: Những giọt nước mắt của cha
Phản hồi của độc giả
Xem thêm
Thời thanh xuân đáng nhớ
Đôi khi bản thân sẽ nhận ra một điều rằng việc bạn lớn lên đi kèm với quãng thời gian thanh xuân sẽ trở thành kí ức đẹp ở mỗi người . Thanh xuân chúng ta có những lúc vui tươi hay trải qua nhiều biến cố không đáng có nhưng không sao bởi vì đó chỉ là một phần thử thách mà cuộc đời cho bạn để giúp bản thân trưởng thành hơn chín chắn hơn trong mọi suy nghĩ.
Sau tất cả cũng quay về bên nhau
Có lẽ, trước khi cô ấy mất đã kể hết sự thật với chúng. Thế nên, khi em và con dọn đến sống cùng thì chúng rất vui. Bắt đầu từ nay gia đình này sẽ tô thêm màu sắc hạnh phúc và em sẽ thay phần cô ấy để nuôi dạy hai đứa nhỏ nên người. Cảm ơn vì cô ấy đã luôn tử tế nhất có thể với em và em hi vọng ở nơi xa ấy cô ấy đã có thể mỉm cười hạnh phúc rồi.
Em cứ một mình mãi thế không thấy buồn chán sao?
Sau một năm tôi hẹn anh vào ngày trời mưa mùa hạ và rồi anh lại hỏi tôi " em cứ một mình mãi thế không thấy buồn chán sao?" . Khi tôi là một cô gái tràn đầy năng lượng hay khi tôi là một cô gái tĩnh lặng thì anh vẫn dành câu hỏi đó cho tôi. Tôi hiểu vì sao lại thế nhưng câu trả lời của tôi vẫn chỉ là " em ổn".
Hẹn gặp lại nhau khi lòng đã hóa bình yên
Hãy gặp lại nhau, khi một mùa hoa khác lại nở. Đó không nhất thiết phải là mùa xuân rực rỡ, mà là mùa của sự sống đâm chồi từ những kẽ nứt của thương tổn. Là mùa của những mảnh tình được "gắng ghép" lại, không phải một cách gượng ép, mà là sự gắn kết tự nhiên của hai mảnh ghép đã được mài dũa qua thời gian. Những vết rạn trên gốm sứ khi được hàn bằng vàng sẽ càng trở nên quý giá; tình yêu của chúng ta cũng vậy, sau những lần tan vỡ và hàn gắn, nó sẽ mang một vẻ đẹp trầm mặc và bền bỉ vô cùng.
Dư âm
Có lẽ với chị Sáu điều khiến chị vui nhất, tự hào nhất chính là ba đứa con. Tụi nhỏ như ba ngọn đèn soi rọi để chị bước đi trong đêm tối. Hễ chị lỡ một nhịp, tụi nhỏ lại kéo chị một cái, kéo chị đi về nơi sáng hơn.
Mắt em sao buồn thế?
Mắt em sao buồn thế? Lại để giọt lệ rơi Như sầu đông vời vợi Mi khép một khung trời.
Ngôi nhà hạnh phúc
Những ngày đông đến, gió thổi hun hút ngoài hiên, mẹ lại ngồi bên khung cửa sổ đan áo len cho chúng tôi. Đôi tay mẹ thoăn thoắt, từng sợi len như dệt thành bao thương yêu thầm lặng. Chị tôi ngồi kế bên, vừa gỡ rối sợi len, vừa khe khẽ hát mấy câu vọng cổ. Còn cha, khi rảnh, lại kể chuyện ngày xưa cho chúng tôi nghe, giọng cha trầm ấm hòa cùng tiếng mưa tý tách ngoài hiên. Ngôi nhà nhỏ khi ấy ấm hơn bất kỳ ngọn lửa nào.
Khi tình yêu không còn nữa
Tôi chẳng cần phải sống vì bất cứ ai, nhìn sắc mặt hay chịu chi phối cảm xúc của người khác. Nhưng rồi tôi nhận ra nhiều khi ly hôn không phải là chúng ta kết thúc cuộc hôn nhân không hạnh phúc mà là mở ra cho chúng ta một bước tiến mới. Có thể là những ngày bình yên hay những ngày mà chúng ta phải tự đối diện với khó khăn thay vì có chồng hay vợ bên cạnh cùng vượt qua.
Người lạ, có quen!
Cảm ơn cậu vì đã xuất hiện để cô có thêm mảnh ghép lạ nhưng rất chân thật. Cảm ơn cậu vì vẫn luôn xuất hiện khi cô thực sự cần sự hỗ trợ. Chúng ta gặp nhau có thể đã là một “phép màu” giữa hàng triệu người lướt qua nhau ngoài cuộc sống xô bồ kia. Chào tạm biệt cậu - người lạ có quen!
Giữa hai mùa im lặng
Ở một nơi khác, Minh bước đi nhẹ hơn. Nó không còn chạy trốn. Chỉ là đang đi chậm lại, đủ để không lạc mất con đường quay về. Giữa hai mùa im lặng, cuối cùng cũng có một mùa mưa ở lại.












