Thân gửi những người bạn miền núi của tôi
2014-10-10 01:06
Tác giả:
Phan Thị Kim Thảo
Khi còn bé, tôi đã từng ước mơ được sống trong một khu rừng rộng lớn. Nơi đó, có dòng suối mát lành nước chảy quanh năm không biết mệt. Nơi đó, có hàng trăm loài chim thi nhau khoe giọng hát líu lo sớm chiều, và nơi đó có những con người mà tôi yêu mến… Để rồi đêm đến, tôi thường ôm những ước mộng trẻ thơ ấy vào giấc ngủ, có khi tôi thấy mình lạc lõng giữa chân không, khi lại bơ vơ đi tìm lối thoát giữa mênh mông, bạt ngàn.
Hồi đó, tôi sống với ông bà ngoại, mà nhà ông tôi đâu phải ở thị trấn hay thành phố gì cho cam, chỉ cần đi qua con khe Mộ Cô thì bờ bên kia đã được gọi là triền đồi. Mảnh đất nơi tôi sống là thượng nguồn của con sông Hương êm đềm chảy giữa lòng phố Huế, chia đôi bờ Bắc – Nam. Nếu tôi có về thành phố thì sẽ được nghe người ta gọi mình là “con bé miền núi”, “con bé ở rừng” đó thôi. Ấy thế mà tôi vẫn ước những điều ngây ngô, khờ dại.
Để rồi cứ mỗi chiều về, tôi thường hay ngóng trông, chờ đợi đoàn người đi từ trên núi xuống. Họ là những người K’Ho, tộc người sống tập trung chủ yếu ở miền núi. Cứ vài ba hôm họ lại gùi những chiếc gùi nặng nhọc được đan bằng sợi mây chắc chắn đi về miền xuôi. Những chiếc gùi chứa nhiều thứ mà tôi rất thích, đó là những trái thơm to gấp mấy lần nhà tôi trồng có vị ngọt thanh, hay những trái cây rừng có mùi ngai ngái nhưng ăn lại rất ngon và còn có các loại hoa màu khác… Họ mang xuống núi để bán cho người miền xuôi với giá rất rẻ rồi lấy tiền đó mua lương thực thực phẩm, các loại giống mới để dự trữ cho mùa tới. Và rồi ngày hôm sau họ lại tiếp tục cuộc hành trình trở về với chốn núi rừng của riêng họ. Đôi khi tôi tự hỏi, có phải những đôi chân ấy được hun đúc bằng đồng hay sắt thép, bởi chưa bao giờ tôi nghe họ ca thán đến nửa lời về những cuộc hành trình cứ nối dài lên rừng xuống núi như vô tận ấy.

Ông tôi có mở một quán nhỏ tại nhà để bán những thứ cần thiết cho người đi đường kiêm luôn nhà trọ nghỉ qua đêm nhưng hoàn toàn miễn phí. Thường thì những người K’Ho về tới miền xuôi khi trời đã tối nên ghé nhà ông tôi ăn uống và nghỉ ngơi, đợi cho trời sáng họ mới mang những thứ mình gùi về ra chợ bán. Gặp người miền xuôi họ nói tiếng Kinh nhưng nói với nhau họ nói thứ tiếng của dân tộc họ, thứ âm thanh mà đối với một đứa trẻ như tôi nghe thật kỳ lạ và thích thú. Ngoài những chiếc gùi đựng đầy các loại hoa quả thực phẩm để bán, họ còn gùi theo những bình rượu cần và vài ống giang được cắt sẵn rửa sạch. Đêm về họ tập trung ngồi lại trước khoảng sân rộng của nhà ông tôi, đàn bà thì vo gạo đổ vào ống giang mà nướng, đợi đến khi cơm trong ống chín họ chẻ ống ra, cắt từng khoanh cơm thơm lừng mùi nếp trải lên trên những ngọn lá vả rồi ăn với muối mè. Còn đàn ông lại ngồi uống rượu cần, hát hò rôm rả. Và những đêm như thế, tôi được ăn món cơm lam đặc sản của người K’Ho, được hùa theo ca từ của những bài hát chốn núi rừng nhưng với rượu cần thì tôi không dám thử. Tôi nhìn thấy trong đôi mắt của họ ánh lên niềm vui, sự lạc quan kỳ diệu vào cuộc sống. Một cuộc sống có quá nhiều chong gai nhưng với họ chưa bao giờ là mệt mỏi.
Tôi như một người bạn thân của hầu hết những con người ấy, dù là người già hay trẻ nhỏ tôi đều thích thú lắng nghe những câu chuyện họ kể về chốn núi rừng - nơi họ sống với một niềm say mê đến mơ mộng. Sau những câu chuyện ấy, giấc mơ trẻ thơ của tôi thêm phong phú và đầy màu sắc. Từ trong sâu thẳm lòng mình, tôi cảm mến những con người với nước da ngăm đen cháy nắng, tôi yêu những ngôi nhà sàn lợp lá, yêu những con nương trồng đủ loại thực phẩm hoa màu, yêu những chú dê rừng dễ thương hoang dại và yêu luôn khoảng trời tuổi thơ của những đứa trẻ lấm lem, gầy gò mà hồn nhiên, trong sáng. Tôi như đứa trẻ bị cuốn vào những thước phim ngắn đầy mê hoặc qua những câu chuyện kể. Chính vì thế, đã nhiều lần tôi nài nỉ ông tôi được theo chân đoàn người kia lên núi nhưng ông tôi nhất quyết không đồng ý, vì đường thì dài mà sức một đứa trẻ như tôi sẽ không chịu nỗi. Tôi vẫn ôm giấc mộng tuổi thơ ấy mãi cho đến khi trưởng thành để rồi nó cứ man mác một nỗi niềm riêng trong lòng tôi.
Thời gian, con người và xã hội dường như luôn vận động và phát triển. Khi tôi tròn mười tuổi, cũng là lúc nhà nước đưa ra những chính sách đổi mới về khu vực miền núi nơi tôi sống. Các tộc người thiểu số được cấp đất và xây nhà ở miền xuôi, họ được hưởng sự ưu tiên về mọi mặt. Với tôi, họ xứng đáng nhận được sự đãi ngộ ấy, nhưng có chút gì đó trong tôi thoáng buồn. Phải chăng tôi buồn vì ước mơ một thời ngây dại trở nên xa xôi hay tôi buồn vì lo sợ những người bạn miền núi của mình sẽ thay đổi. Và kể từ ngày ấy tôi không còn gặp lại họ, những người bạn miền núi của tôi. Tôi không còn được nghe những câu chuyện lý thú ở chốn núi rừng xa xăm, không được ăn những đặc sản có mùi ngai ngái mà đậm đà vị rừng ấy nữa…

Giờ đây, khi đã thực sự trưởng thành nhưng tôi vẫn mãi loay hoay đi tìm ước mơ của mình. Không như hồi bé, chỉ có mỗi một ước mơ. Con người càng lớn càng có nhiều tham vọng và lựa chọn. Cuộc sống xô bồ nên con người phải vội vã chạy theo để bắt kịp nó. Tôi đâm ra lo sợ và nghi ngờ tất thảy mọi thứ, nghi ngờ những người xung quanh và ngay cả chính bản thân mình.
Có những đêm, tôi mơ thấy mình đi lạc giữa chốn núi rừng mênh mông, tôi mải miết đi tìm nhưng lại không biết mình tìm kiếm cái gì. Trong mơ, tôi phân vân không biết nên dừng lại hay đi tiếp. Và rồi tôi vẫn cứ đi, mãi cho đến khi đôi chân tôi trở nên nặng nề và không tài nào nhấc nổi thì trước mắt tôi hiện ra những ngôi nhà sàn lợp lá, những chú dê đen trắng cất lên tiếng mời gọi bê bê, những luống ngô khoai phủ một màu xanh ngát và những con người lấm lem đang nhìn tôi mỉm cười. Tôi nhận ra những người bạn miền núi của mình nên vui sướng chạy đến dang tay ôm lấy họ nhưng trong thoáng chốc tất cả đều tan biến. Tôi giật mình tỉnh giấc, mới hay mình đang mơ. Giấc mơ của một thời trẻ thơ trở về bên tôi, đã giúp tôi nhận ra nhiều điều từ cuộc sống. Tôi sống chậm hơn, hòa nhập hơn với mọi người và tin vào chính mình như tin vào những người bạn miền núi của tôi chưa bao giờ thay đổi.
Rồi đây, sẽ đến lúc tôi phải già đi, khi đó tôi sẽ ngồi và nghiền ngẫm về quá khứ của cuộc đời mình. Và chắc hẳn rằng tôi sẽ không thể nào bỏ qua được những kỷ niệm của một thời tuổi thơ ngây dại, nơi bắt nguồn cho tôi những hoài bão ước mơ, nơi cho tôi đôi mắt để nhìn rõ hơn cuộc sống – một cuộc sống muôn màu, muôn vẽ và muôn điều lý thú để khám phá, thương yêu và trân trọng. Và nếu khi đó, tôi còn có thể gặp lại những người bạn miền núi của mình, tôi sẽ nói với họ chỉ một lời. Đó là cảm ơn!
- Phan Thị Kim Thảo
Phản hồi của độc giả
Xem thêm
Thế giới song song của tuổi 17
Giấc mơ tuổi 17 đưa tôi trải qua một đời người trưởng thành cô độc, để rồi khi bừng tỉnh giữa gian bếp ngập nắng, tôi mới vỡ òa nhận ra thực tại bình dị bên bố mẹ và em gái mới là hạnh phúc vô giá nhất
Cảm ơn vì đã là một phần thanh xuân của tôi
Mười hai năm. Một chặng đường đủ dài để trở thành một phần thanh xuân. Cảm ơn tất cả. Hẹn gặp lại ở một phiên bản tốt hơn của chính mình và vẫn luôn mang theo niềm tự hào vì đã từng là một phần của đại gia đình này
Ánh Trăng Sáng Rơi Vào Lưới - Chương 1
Bữa tiệc kỷ niệm thành lập tập đoàn Hạ Thị được tổ chức tại sảnh tiệc của một khách sạn sáu sao ngay trung tâm thành phố. Tiếng ly thủy tinh va chạm lách cách, tiếng nhạc vĩ cầm du dương và những bộ lễ phục đắt đỏ của giới thượng lưu dệt nên một khung cảnh hoa lệ đến ngột ngạt.
Chiếc Vé Đến Ngày Hôm Qua
Mười năm trước, chúng tôi chỉ là những đứa trẻ mười mười tám tuổi, sở hữu cả bầu trời ước mơ ngây ngô cùng lời hứa về một chiếc vé thời gian giá hai mươi nghìn đồng. Mười năm sau, giữa cơn mưa rào tháng Bảy, liệu hai mươi nghìn đồng có giúp chúng tôi tìm lại được thanh xuân đã bỏ lỡ?
Những người không giàu_Phần 1
Có những cuộc đời sinh ra không để trở thành giàu có. Họ sống giữa phố thị hoặc làng quê, lặng thầm làm thuê, tích góp từng đồng lẻ, gánh trên vai những nỗi lo cơm áo, bệnh tật, hiếu nghĩa, và cả những giấc mơ chưa bao giờ gọi thành tên. Họ khắc khẩu, cãi vã, bướng bỉnh, yếu đuối, rồi lại ôm nhau mà cười, mà khóc, mà gắng gượng đi tiếp qua những mùa giông gió. Họ không giàu, nhưng họ dựng nên một mái nhà bằng lòng thương, bằng sự nhẫn nại và một niềm tin cũ kỹ rằng: dẫu nghèo đến đâu, cũng còn có nhau để quay về.
Hương vị bình yên
Mỗi độ hè về, mẹ lại cầm chiếc rổ tre ra vườn hái rau sắn. Tôi lon ton theo sau, vừa phụ mẹ ngắt lá, vừa nghe mẹ khe khẽ hát vài câu dân ca. Tiếng chim, tiếng gió và tiếng hát của mẹ hòa vào nhau, dệt nên bản hòa âm dịu dàng theo tôi suốt những năm tháng tuổi thơ.
Phía sau một sự dung túng dịu dàng
Đây là một tản văn kể về tình bạn khác giới kéo dài từ những năm tiểu học đến tuổi mười bảy. Không có những rung động mập mờ hay một câu chuyện tình dang dở, bài viết là hành trình nhìn lại một người bạn đã luôn kiên nhẫn, bao dung và âm thầm dung túng những vụng về, bướng bỉnh của tôi. Qua những ký ức nhỏ bé và bình dị, tôi nhận ra điều quý giá nhất thanh xuân từng dành tặng mình không phải là một mối tình, mà là một người luôn cho tôi quyền được là chính mình.













