Dì tôi
2021-09-16 01:05
Tác giả:
Bắc Duyên
blogradio.vn - Trời tháng 3, xuân hẵng còn, cỏ non vẫn xanh rì, bầu trời trong veo đượm chút nắng. Tôi tiếc cho tình yêu của dì và khóc cho thanh xuân của dì. Còn dượng ôm một bó hoa màu tím, lặng lẽ quỳ bên cạnh mộ dì. Đâu đó vẫn văng vẳng những câu thơ thuở bé tôi hay nghe dì đọc.
***
Tôi hay gọi dì là má Hai, bởi dì là con gái đầu của ngoại và là người đầu tiên bồng bế tôi lúc lọt lòng. Cả tuổi thơ của tôi gắn bó với dì trong ngôi nhà nhỏ bên xóm chợ An Nhơn cũ những năm hai nghìn, với những câu chuyện cổ tích và cái kết đẹp như mơ về hoàng tử công chúa dì kể.
Dì tôi xinh đẹp lắm, nước da trắng, mái tóc đen dài ngang lưng được búi cao gọn gàng, vài mớ tóc mềm phía trước lòa xòa qua đôi mắt ướt át lúc nào cũng đượm buồn. Thuở ấy, bố tôi công tác xa nhà, mẹ tôi bận rộn với sạp vải ở trong chợ, dì mở một tiệm tạp hóa nhỏ ngay sát bên hông nhà, thế nên từ sáng đến tối, mấy chị em tôi chỉ biết bên cạnh dì.
Tôi là bé Út nên lúc nào cũng được dì ẵm bế, đến lúc 5 tuổi dì vẫn còn đút cơm ngày 3 bữa cho tôi thay mẹ. Những đêm trời nóng nực, dì đặt tôi lên võng, đu đưa và ngâm thơ. Má Hai thương chị em tôi như con. Cuộc sống của người phụ nữ góa chồng thuở đó tôi chẳng cảm nhận được nhiều, chỉ ấn tượng những chiều trời trở mưa, dì hay đem một cái ghế nhựa ra ngồi trước cửa tay cầm tấm hình một người đàn ông trong bộ quân phục - là hình của dượng tôi. Thỉnh thoảng tôi thấy dì khóc, cũng có khi dì sẽ đọc cho tôi nghe những bức thư của hai người thuở còn yêu đương.
Lớn lên một chút, tôi mới hiểu nhiều chuyện hơn. Dượng tôi đẹp trai, giỏi giang nhưng vốn là con mồ côi lưu lạc vào làng tôi năm mới lên bảy tuổi. Hai người yêu nhau rồi kết hôn mặc cho ông bà ngoại tôi ngăn cản. Không bao lâu dượng ra chiến trường biên giới Tây Nam rồi hy sinh.
Ở cái tuổi đẹp nhất của thì con gái vì nặng tình mà dì chẳng muốn đi thêm bước nữa. Khi bố mẹ tôi vào Sài Gòn sinh sống, dì cũng muốn vào Nam để còn đi tìm hài cốt của dượng trên chiến trường Campuchia. Nhưng mãi, dù bố tôi đã nhiều lần đi hết mấy tỉnh miền Tây, qua tận biện giới vẫn bặt vô âm tính.
Mẹ tôi bảo thật ra dì vẫn hy vọng dượng chưa hy sinh, vẫn đang ở đâu đó, có gia đình mới nên không muốn về gặp dì, thế nên mới không lập bàn thờ cho dượng.
Hồi đấy tôi chẳng thấu nỗi nặng lòng là gì trong tình yêu chỉ thầm nghĩ sao dì ngây dại, nếu dượng đã có gia đình mới tại sao dì chẳng đi thêm bước nữa, chờ đợi chi một người tình nghĩa như vôi. Sau này khi trải qua những đổ vỡ, tôi mới hiểu, cam tâm tự nguyện vì một người đó chính là tình yêu, cả cuộc đời ngắn dài chỉ thương một người đó gọi là trăm năm, là vĩnh cửu.
Những năm tháng bé thơ đi qua cùng những ngày mưa bất chợt của Sài Gòn. Bố tôi không còn đóng đơn vị xa nhà nữa mà chuyển hẳn về thành phố, các chị lớn lần lượt đi du học rồi kết hôn. Còn mỗi tôi bận rộn với lịch học và những thú vui của tuổi mới lớn ngày ấy. Chẳng còn quấn quanh chân dì, chẳng chạy theo dì đi lấy đá lạnh ở mấy xưởng gần bờ sông.
Đúng là ông bà nói chẳng sai “Nước chảy xuôi, nước không chảy ngược”. Càng lớn tôi càng ít dành thời gian bên dì. Thi thoảng dăm ba bữa những lúc dì ốm đau tôi mới qua ngủ chung với dì. Dì thì vẫn thế, đồ ăn ngon vẫn để phần cho tôi, vẫn đến đón tôi học về mỗi lần trời đổ mưa bất chợt, vẫn ôm tôi “Gà nay lớn rồi nhưng vẫn út ít thôi.”
Mọi người trong xóm bảo tôi giống dì, nhất là đôi mắt lúc nào cũng như đang khóc. Dì sợ cuộc đời tôi sẽ giống dì nên nghe ai nói thế cũng xua xua “Mặt mũi con bé tươi tắn thế sao giống tui được”. Khi tôi vào học phổ thông, dì về quê sống để tiện chăm sóc cho bà ngoại đã già.
Dì về rồi, ngôi nhà bên cạnh bố tôi lấy lại đem cho thuê, tôi không chịu nên chuyển sang đó ở. Mọi thứ trong căn nhà, tôi vẫn giữ như cũ, những món đồ nho nhỏ dì mua, tôi giữ lại mặc kệ bố bảo vứt bớt cho đỡ chật.
Một dịp hè, tôi về quê viếng mộ bà ngoại và thăm dì, dì già đi nhiều, mái tóc đã bạc, đôi mắt giờ như không còn được nhìn rõ bởi những dòng nước mắt dành cho một người đàn ông vốn chẳng rõ còn tồn tại hay không. Ôm dì, tôi khóc vì nhớ và vì thương. Vốn có ý định đưa dì vào lại Sài Gòn nhưng khi nhìn thấy bàn thờ của dượng và nghe dì tâm sự chỉ có ở quê dì mới được sống lại thuở mười tám đôi mươi nên tôi từ bỏ ý định.
Vậy là cuối cùng, một người phụ nữ sau bao năm chờ đợi đã chấp nhận sự thật, không còn mong chờ một điều viển vông, chấp nhận rằng một người đã không còn ở trên cõi đời này nữa. Dì ngồi bên cạnh tôi, giữa ngôi nhà trống vắng không tiếng trẻ con, chỉ có sự cô đơn lạnh lẽo.
Ánh nắng lúc chiều buông xuống trên cánh đồng trước nhà sao thật buồn. Dì nói “Ngày trước dì không dám đi thêm bước nữa, trước là còn thương, sau là sợ lỡ một ngày dượng trở về tìm dì, lúc đó dì phải làm sao. Cũng gần bốn mươi năm rồi, giờ thì không chờ đợi nữa, dù sự thật có thế nào với dì bây giờ dượng cũng đã không còn trên đời này”.
Tôi tạm biệt dì về lại Sài Gòn và chuẩn bị một hành trình mới của cuộc đời ở một đất nước xa lạ. Xa Sài Gòn được gần một năm, tôi nghe tin dữ. Dì mất do đột quỵ.
Cả cuộc đời dì, sống trong chờ đợi trong mòn mỏi hy vọng rồi đến cuối đời ra đi trong thinh lặng và lẻ loi. Ngày về Việt Nam tiễn dì trên chuyến bay từ Narita đến sân bay Tân Sơn Nhất, tôi ngồi cạnh một người đàn ông, mái tóc hoa râm, đôi mắt leo nheo nhìn vào tấm ảnh của một cô gái cỡ tuổi đôi mươi. Là dì. Hình dì tôi mà ngày bé tôi đã từng nhìn thấy.
Tôi tự hỏi “Là dượng Quân”. Nếu đúng là con người bạc bẽo ấy, dì tôi bây giờ liệu đau lòng hay vui mừng đây, khi người đàn ông bao năm dì ngóng đợi vẫn còn đang sống và có vẻ viên mãn như thế kia.Nếu người đó không phải là dượng thì tại sao lại có tấm hình của dì.
Mọi thứ khiến tôi thốt lên vô thức, lúc đấy chẳng cần biết đó có đúng là dượng không. Ông ta ngước lên nhìn tôi “Sao cháu biết chú?”. Tôi như nghẹn đắng cổ họng, một chút tủi hờn, một chút oán hận như trỗi lên trong lòng. Tôi đau thay cho dì, giận thay cho dì
“Chú là chồng Dì Tuyết sao?”. Sau cái gật đầu, tôi tự nhiên òa lên khóc. Chẳng biết lúc đó ngoài cảm giác oán hận ra trong lòng tôi có vui mừng không, khi cuối cùng tâm nguyện cả đời của dì cũng đã hoàn thành.
Tôi đưa dượng về quê chịu tang dì. Mẹ tôi oán dượng nên chỉ biết buông lời trách móc sao ngần ấy năm biệt tăm biệt tích để dì phải lặn lội tìm kiếm. Dượng kể, năm đó sau một phen cận kề cái chết, dượng được một cô gái cứu giúp rồi hai người phải lòng nhau. Sau khi kết hôn một thời gian thì sang Nhật sống. Dù đã qua nhiều năm nhưng trong lòng dượng chưa bao giờ thôi nhớ về dì, thôi nhớ về mối tình đầu.
Dượng cứ ngỡ, sau tin dượng hy sinh, dì chắc cũng sẽ lập gia đình, đã rất hạnh phúc nên không muốn quay về hay giải thích điều gì nữa. Hôm dì mất, dượng mơ thấy dì trong chiếc áo hoa tím thuở hai người còn hò hẹn, mặt buồn tênh không nói lời nào. Rồi chẳng biết điều gì thôi thúc khiến dượng quyết định về Việt Nam sau gần bốn mươi năm chưa một lần dám trở lại.
Đau lòng làm sao khi dì tôi dùng cả tuổi trẻ, cả hạnh phúc đời người để đánh cược một tình cảm son sắt từ dượng, còn dượng lại dùng sự nghi ngại và bội tín để chối bỏ tình yêu của bản thân. Và rồi cả hai lạc mất nhau.
Trời tháng 3, xuân hẵng còn, cỏ non vẫn xanh rì, bầu trời trong veo đượm chút nắng. Tôi tiếc cho tình yêu của dì và khóc cho thanh xuân của dì. Còn dượng ôm một bó hoa màu tím, lặng lẽ quỳ bên cạnh mộ dì. Đâu đó vẫn văng vẳng những câu thơ thuở bé tôi hay nghe dì đọc.
“Em ơi, dẫu xuân xanh có qua
Thì hẵng nhớ tình anh vẫn còn
Anh vẫn mãi thương
Dẫu tóc có hoa râm
Dẫu giọng nói không còn khỏe khoắn
Dẫu tình ta vô cớ chia đôi lối rẽ
Em hãy nhớ, tình anh vẫn còn”.
© Tuệ Di - blogradio.vn
Xem thêm: Khi mẹ nhớ con – mẹ gọi, khi con nhớ mẹ - mẹ ở đâu?
Phản hồi của độc giả
Xem thêm
Thế giới song song của tuổi 17
Giấc mơ tuổi 17 đưa tôi trải qua một đời người trưởng thành cô độc, để rồi khi bừng tỉnh giữa gian bếp ngập nắng, tôi mới vỡ òa nhận ra thực tại bình dị bên bố mẹ và em gái mới là hạnh phúc vô giá nhất
Cảm ơn vì đã là một phần thanh xuân của tôi
Mười hai năm. Một chặng đường đủ dài để trở thành một phần thanh xuân. Cảm ơn tất cả. Hẹn gặp lại ở một phiên bản tốt hơn của chính mình và vẫn luôn mang theo niềm tự hào vì đã từng là một phần của đại gia đình này
Ánh Trăng Sáng Rơi Vào Lưới - Chương 1
Bữa tiệc kỷ niệm thành lập tập đoàn Hạ Thị được tổ chức tại sảnh tiệc của một khách sạn sáu sao ngay trung tâm thành phố. Tiếng ly thủy tinh va chạm lách cách, tiếng nhạc vĩ cầm du dương và những bộ lễ phục đắt đỏ của giới thượng lưu dệt nên một khung cảnh hoa lệ đến ngột ngạt.
Chiếc Vé Đến Ngày Hôm Qua
Mười năm trước, chúng tôi chỉ là những đứa trẻ mười mười tám tuổi, sở hữu cả bầu trời ước mơ ngây ngô cùng lời hứa về một chiếc vé thời gian giá hai mươi nghìn đồng. Mười năm sau, giữa cơn mưa rào tháng Bảy, liệu hai mươi nghìn đồng có giúp chúng tôi tìm lại được thanh xuân đã bỏ lỡ?
Những người không giàu_Phần 1
Có những cuộc đời sinh ra không để trở thành giàu có. Họ sống giữa phố thị hoặc làng quê, lặng thầm làm thuê, tích góp từng đồng lẻ, gánh trên vai những nỗi lo cơm áo, bệnh tật, hiếu nghĩa, và cả những giấc mơ chưa bao giờ gọi thành tên. Họ khắc khẩu, cãi vã, bướng bỉnh, yếu đuối, rồi lại ôm nhau mà cười, mà khóc, mà gắng gượng đi tiếp qua những mùa giông gió. Họ không giàu, nhưng họ dựng nên một mái nhà bằng lòng thương, bằng sự nhẫn nại và một niềm tin cũ kỹ rằng: dẫu nghèo đến đâu, cũng còn có nhau để quay về.
Hương vị bình yên
Mỗi độ hè về, mẹ lại cầm chiếc rổ tre ra vườn hái rau sắn. Tôi lon ton theo sau, vừa phụ mẹ ngắt lá, vừa nghe mẹ khe khẽ hát vài câu dân ca. Tiếng chim, tiếng gió và tiếng hát của mẹ hòa vào nhau, dệt nên bản hòa âm dịu dàng theo tôi suốt những năm tháng tuổi thơ.
Phía sau một sự dung túng dịu dàng
Đây là một tản văn kể về tình bạn khác giới kéo dài từ những năm tiểu học đến tuổi mười bảy. Không có những rung động mập mờ hay một câu chuyện tình dang dở, bài viết là hành trình nhìn lại một người bạn đã luôn kiên nhẫn, bao dung và âm thầm dung túng những vụng về, bướng bỉnh của tôi. Qua những ký ức nhỏ bé và bình dị, tôi nhận ra điều quý giá nhất thanh xuân từng dành tặng mình không phải là một mối tình, mà là một người luôn cho tôi quyền được là chính mình.










