Nắng vàng rực rỡ
2015-10-04 04:09
Tác giả:
Được nghỉ vài ngày, tôi tự cho phép mình được ăn, được ngủ, được cuộn tròn trong chăn ấm để kéo dài thêm những giấc mơ. Thế nhưng ngày hè vội vã đến, vùng sáng phương đông mỗi lúc thêm trải rộng khiến cho không khí ẩm ướt mang hơi thở lanh lạnh của đêm không còn nữa. Nó nhường chỗ cho những tia nắng ấm áp của buổi sớm mai tinh khiết và trong trẻo. Nắng xuyên qua những cành cây khẽ lá, băng qua những mái nhà rồi lọt thỏm vào những ô cửa sổ.
Tôi đưa tay hứng từng giọt nắng, háo hức đến nỗi muốn gom cả nắng vào trong phòng. Cứ mỗi lần như vậy, tôi lại nhớ đến câu nói của Nhi “Ở quê mình có nắng sướng thật, từ ngày tao đi lấy chồng xa, nơi phố núi đầy sương, chẳng còn cảm nhận được cái nắng dịu dàng, nhẹ nhàng, thanh khiết của một buổi sớm mai trong lành”.
Có lẽ, trong tiềm thức của nhiều người, cái nắng của những ngày hè đỏ lửa chỉ gây ra những cảm giác khó chịu khiến người ta phải bực mình, cáu gắt. Người ta không thích áo mình ướt đẫm mồ hôi vì nắng, không thích làn da sạm đen vì nắng, không muốn bị cảm vì phải say nắng. Riêng Nhi, cái nắng vàng rực rỡ của những ngày hè ở quê hương là cả một vùng trời kỉ niệm.

Gia đình Nhi làm nghề muối, cái nghề mà người đời hay gọi là “diêm dân”, cứ vào khoảng từ tháng 4 đến tháng 7 trong năm, diêm dân đi làm từ rất sớm. Ba Nhi thường kể “Muốn làm muối cần phải có ba yếu tố quan trọng đó là phải chọn nơi có nước biển mặn hơn nước biển bình thường, hai là phải có gió và điều đặc biệt nữa là phải có nắng, nắng càng rực rỡ càng tốt”, vì trời càng nắng nóng, những mẻ muối càng kết tinh và khô nhanh hơn. Chính vì thế mà Nhi yêu cái nắng quê mình bởi có nắng gia đình Nhi có thêm tiền để trang trải cho cuộc sống. Có nắng chị em Nhi được mặc quần áo đẹp, được đi học trên một chiếc xe đạp mới.
Người ta thường nói: “Làm muối chỉ gói gọn trong một ngày. Sáng cấy, chiều gặt, chưa bao giờ thấy nghề nào ngon ăn như nghề này”. Chẳng biết có “ngon ăn” hay không, khi cái nghề luôn phụ thuộc vào thời tiết, quanh năm bán mặt cho nước biển, bán lưng cho trời. Để làm ra những hạt muối “ngon lành”, từ công đoạn đầu tiên cho đến khi thu hoạch là cả một quá trình vất vả, khó nhọc bắt đầu từ việc làm đất, đào kênh, be bờ đắp đập, ngăn ô để tạo thành ruộng muối, rồi đến công đoạn dẫn nước biển vào từng ô phơi cho đến khi nước bay hơi, tạo thành tảng băng trên mặt ruộng gọi là muối nền, sau đó tiếp tục bơm nước biển vào và phơi cho đến khi nước bay hơn chỉ còn lại những hạt muối trắng tinh. Lúc bây giờ có thể thu hoạch được bằng cách cào lại thành từng ụ, từng đống rồi gánh về nơi “tập kết”.
Vất vả là thế nhưng giá muối thì “rẻ như bèo”, có năm chỉ có vài trăm đồng một ký. Đó là chưa kể có những hôm đến lúc gần thu hoạch, bỗng dưng trời “chuyển dạ”, thế là bao nhiêu mồ hôi nước mắt đều tan chảy trong màn mưa. Vì làm mãi chẳng đủ ăn nên nhiều người đã rời bỏ quê hương, đi tha phương cầu thực. Nhiều lần ba Nhi cũng có ý định muốn bỏ nghề, nhưng vì đã quen với cái nắng cái gió của quê hương nên ông vẫn duy trì nghề muối truyền thống của gia đình.

Những công đoạn cũng như những khó khăn vất vả của nghề làm muối, tôi đã được Nhi kể cho nghe rất nhiều lần, mà lần nào Nhi cũng nhấn mạnh “Mày không biết đâu, dưới ánh nắng hè gay gắt, trên từng thửa ruộng “trồng” muối, những người làm muối như ba tao luôn phơi mình trong cái nắng om da cháy thịt nhưng họ vẫn nở nụ cười”. Nụ cười ấy Nhi luôn gọi là “Nụ cười tỏa nắng”, nụ cười của tình yêu thương.
Bây giờ, Nhi lấy chồng xa nên ít về thăm quê, có năm chỉ về hơn một lần, mà lần nào cũng vội vội vàng vàng, gặp tôi chưa cạn tách cà phê đã nói lời tạm biệt. Có lúc, tôi giận, không thèm nói chuyện với Nhi nhưng nghĩ lại, cuộc sống vốn là thế, ngày trước, hai chúng tôi có thể ngồi với nhau hàn huyên tâm sự mà không cần chú ý đến thời gian. Giờ thì khác, Nhi đã lập gia đình, không thể sống theo sở thích của bản thân. Dường như, mọi ước mơ, hoài bão của những tháng ngày áo trắng đều xếp lại trong ngăn tủ, lâu lâu kéo ra để hoài niềm, để nhớ nhung, để thèm khát rồi lại tiếp tục với cuộc sống thường nhật. Đôi lúc, tôi cũng thương cho Nhi, thương cho những giấc mơ đã hoang hoải bạc màu.
Nhiều khi, nghe nó gọi điện hỏi thăm: “Dạy dỗ như thế nào rồi cô nương?”, tôi liền kể một mạch. “Năm nay là năm đầu tiên mình được chủ nhiệm, lớp có 43 đứa gồm 17 nam, 26 nữ. Em nào nhìn cũng dễ thương lại ngoan hiền.” Tôi say sưa nói về những tiết học đầu tiên, hân hoan khi kể về những buổi ngoại khóa. Nghe tôi kể mà Nhi không biết chán cứ hỏi mãi, hỏi mãi “Rồi sao nữa, sao nữa?”. Những lúc như vậy, tôi biết rằng, mình đang thực hiện giấc mơ của Nhi. Và mỗi khi kết thúc cuộc gọi lúc nào Nhi cũng hỏi tôi một câu “Hôm nay, quê mình có nắng không?”. Tôi liền trả lời ngay “Hôm nay, có nắng vàng rực rỡ”
© Mai Ly – blogradio.vn

CLICK VÀO ĐÂY ĐỂ XEM THÔNG TIN CHI TIẾT
Phản hồi của độc giả
Xem thêm
Kỳ Thi Có Đáp Án, Còn Nỗi Nhớ Thì Không
Em nghĩ rằng chỉ cần đủ bận, mình sẽ quên được. Nhưng hóa ra có những người không cần xuất hiện mỗi ngày vẫn có thể ở lại rất lâu trong lòng người khác. Điều đó khó hơn em tưởng. Khó hơn cả những kỳ thi mà em từng thức trắng đêm để vượt qua. Bởi kỳ thi nào rồi cũng có đáp án. Còn nỗi nhớ thì không.
Chúng Ta Đã Đi Qua Mùa Hạ Năm Ấy (Phần cuối)
Mãi một lúc lâu sau, anh mới quay trở lại khoang tàu. Lúc này, mẹ anh đã ngủ thiếp đi trên giường nghỉ phía trong. Tấm chăn mỏng được kéo ngay ngắn đến ngang vai, ánh nắng nhạt ngoài cửa sổ lặng lẽ phủ lên mái tóc đã bạc trắng của bà, khiến gương mặt trở nên hiền hòa hơn. Chỉ còn Tường Lan ngồi chống cằm cạnh cửa sổ, lơ đãng nhìn cảnh vật đang chậm rãi lùi về phía sau. Nghe thấy tiếng bước chân, cô mới khẽ quay đầu lại.
Chúng Ta Đã Đi Qua Mùa Hạ Năm Ấy (Phần 5)
Nói đến đây, anh lại ngước mắt nhìn cô. Sau một khoảng lặng rất dài, anh mới cất tiếng, vẻ mặt dần trở về với sự bình thản quen thuộc. “Những gì em muốn nghe anh đều đã nói hết rồi...”
Chúng Ta Đã Đi Qua Mùa Hạ Năm Ấy (Phần 4)
Hai người ngồi ở khuôn viên thêm một lúc rồi Tường Lan mới dìu bà trở về phòng. Khi đi ngang qua hành lang, cô vô thức nhìn về phía anh. Anh vẫn đứng ở đó, Vừa thấy hai người bước tới, anh lập tức cúi đầu, lảng tránh ánh mắt cô. Tường Lan đưa bà vào trong phòng rồi nhanh chóng bước ra ngoài. Cô đi đến trước mặt anh, khẽ nói: “Vào trong với em một lát nhé!”
Chúng Ta Đã Đi Qua Mùa Hạ Năm Ấy (Phần 3)
Bảy giờ tối, Tường Lan lại giữ thói quen đi dạo. Cô không có ý định trở về khách sạn quá sớm, mà anh dường như cũng vậy. Hai người sóng bước bên nhau trên con phố lên đèn, anh vừa đi vừa hỏi: “Ngày mai em có dự định đi đâu chưa? Dù sao cũng lâu rồi em mới về Việt Nam mà”
Bước Qua Cơn Mưa, Mới Thấy Được Cầu Vồng
Sau cơn mưa, bầu trời bỗng trở nên thoáng đãng, mây xanh hơn và nắng cũng dịu dàng hơn. Cô không còn đứng từ xa để ngắm nhìn một bóng hình nào nữa. Giờ đây, chính cô là tia nắng ấm áp xuyên qua những hơi sương còn sót lại, dệt nên một dải cầu vồng với dáng vẻ rực rỡ nhất của riêng mình.
Khi tuổi tác trở thành gánh nặng
Trong rất nhiều nỗi lo toan của cuộc sống, không biết từ khi nào mình lại bắt đầu sợ tuổi tác đến vậy. Hồi còn nhỏ, tôi từng nghĩ khi lớn thêm một tuổi nghĩa là mình sẽ trưởng thành hơn, được tự do hơn, được bước gần hơn tới cuộc sống mà mình hằng mong muốn. Nhưng đến khi thật sự lớn lên, tôi mới hiểu có những độ tuổi người ta không còn háo hức chờ đợi nữa mà chỉ âm thầm lo sợ khi nó đến gần.
Tôi của những năm tháng 17
Đứng trước tuổi 17 đối mặt với nhiều ngã rẽ của cuộc đời. Ta phải luôn thấp thỏm lo âu trước những lựa chọn của bản thân. Và ta sẽ đối mặt với nhiều biến động của cuộc sống


