Tựa như ánh Mặt Trời
2014-06-06 05:15
Tác giả:
Thời còn trẻ, ông bà tôi có cuộc sống rất cơ cực. Đồng lương một nhân viên “quèn” trong bộ máy nhà nước thời Pháp thuộc chẳng đủ nuôi một vợ ba con. Bà tôi phải gánh một gánh bún thịt nướng đi bán dạo hằng đêm trên các con đường Hà Nội có nhiều”me Tây” ( người lấy Tây) đến vui chơi để bán đắt hàng hơn. Ngoài việc chịu đựng sự vất vả của nghề bán dạo đã đành, bà tôi còn phải lẩn tránh những người đồng nghiệp quen mặt của ông tôi, vì sợ ông mất sĩ diện. Bà còn phải tránh những trò đùa cợt, những lời trêu ghẹo của bọn say sưa…
Bất kể gió lạnh mưa rơi, hằng đêm bà tôi đều chăm chỉ ngồi quạt thịt ở một góc phố nào đó, khói lan tỏa làm mồ hôi lăn tăn trên khuôn mặt người đàn bà còn xinh xắn. Ông thương bà, muốn chia sẻ gánh nặng mưu sinh nên hằng đêm khi bán xong, ông phải vào mùng để chẻ rau muống cùng bà đến một, hai giờ sáng mới được chợp mắt. Do bà tôi sinh ba người con đều là con gái nên bố mẹ chồng không ưng ý. Ông tôi bị ông bà cố gọi về yêu cầu lấy vợ bé để có con trai nối dõi tông đường.Trước yêu cầu ấy, ông tôi khẳng khái từ chối. Ông bà cố tôi nói:

“Nếu không có con trai thì khi làm đám tang không có người đội mũ bắc cầu, lúc xuống âm phủ không đi qua cầu Tái Sinh được!”
Ông tôi trả lời:
“Nếu không đi được, con sẽ bò để qua, chứ con không phụ bạc vợ mình khi còn ở trần gian!”
Có lẽ vì “chữ tình” đáng quý của ông mà sau này suốt cả đời, bà tôi luôn hy sinh hết cho ông. Trái lại, bà hứng chịu nhiều cay nghiệt từ phía nhà chồng vì cái tội” không có con trai”
Thời gian trôi qua, nhờ không quản vất vả chăm chỉ kiếm sống, ông bà tôi tậu được một căn nhà khang trang. Thế là chấm dứt cuộc đời ở nhà thuê trong một con ngõ nhỏ tồi tàn. Chấm dứt những đêm mưa bị dột phải đem tất cả thau để hứng, phải nhường chỗ khô ráo cho các con nằm. Chấm dứt cảnh ông bà phải vào mùng vì quá nhiều muỗi. Nhưng tân gia chưa bao lâu, đất nước chia đôi (1954). Bỏ lại ngôi nhà mới ở chưa bén hơi người,ông bà khăn gói di cư vào Nam. Một cuộc sống nơi đất khách quê người.Vốn liếng chẳng còn nhiều vì đã dồn vào mua nhà. Trước khi đi ông bà không bán nhà vì hi vọng sau một năm tổng tuyển cử, sẽ được lại về cố hương. Không ai ngờ ngày ấy đã kéo dài hai mươi mốt năm ! Ông bà tôi phải làm lại từ con số không trên một vùng tỉnh lỵ miền Trung. Ông xin một chân thư ký, bà ra chợ buôn bán cần cù làm lụng trong sự tiếc nuối về tài sản, trong nỗi nhớ nhung quay quắt về Hà Thành.
Ba người con gái khôn lớn, lần lượt đi lấy chồng. Vì muốn gần các con, ông bà một lần nữa dọn nhà về Sài Gòn. Ông bà tôi mua được một căn nhà nhỏ, nhận chăm sóc các cháu, giúp con mình lo làm ăn cùng chồng. Chiến sự Mậu Thân (1968), ông bà bị cháy nhà. Thêm một lần nữa, tài sản bị mất trắng. Nhưng không có gì quật ngã được ông bà. Từ đống đổ nát, ông bà gầy dựng lại tất cả. Khi ngôi nhà trở nên đẹp đẽ với hai tầng lầu thì Sài Gòn được giải phóng. Trước đó ba ngày, ông bà tôi còn gom góp một triệu ( số tiền rất lớn vào thời đó) để gửi vào ngân hàng. Sau này mất trắng vì chủ của ngân hàng bỏ đi nước ngoài.
Cuộc sống khó khăn của đất nước sau ngày thống nhất cũng khiến ông bà tôi lao đao. Ba chàng rể thất nghiệp, còn con gái phải ra đường bươn chải. Đàn cháu ngoại vẫn do ông bà nhận nuôi dùm. Khi qua cơn bĩ cực, cuộc sống khá giả thì ông tôi phát hiện bị ung thư bao tử thời kỳ thứ ba. Bác sĩ giải phẫu mở ổ bụng, nhận thấy di căn quá nhiều nên may lại, bảo người nhà đem ông về. Con cháu không dám nói sự thật, nói dối ông ca mổ đã thành công. Nhưng ông biết điều đó là không thật! Vì ông không ăn được gì, chỉ uống sữa. Một thời gian ngắn, cơ thể suy kiệt, vùng bụng ngày một cứng, cơ thể từ chối nạp dinh dưỡng. Một buổi sáng, ông tôi kêu tôi đem chiếc đồng hồ từ trên cao xuống, đóng đinh treo nó vào chỗ mới, ngang tầm mắt ông. Hình như ông chuẩn bị cho sự ra đi vào cõi vĩnh hằng của mình. Ông gọi cả nhà đến bên giường rồi cầm lấy tay bà tôi, ông trăn trối:
“ Tôi xin lỗi bà vì cả đời tôi không làm gì được cho bà và các con cháu. Chỉ mong bà ở lại giữ gìn sức khỏe, cố gắng sống lâu để giúp đỡ các con các cháu”
Dặn dò xong, ông kêu mệt, ông muốn nằm một mình cho yên tĩnh.Khi đồng hồ đánh bốn tiếng chuông thì ông tôi không còn nữa.Ông ra đi trong một buổi chiều nhạt nắng, trong tiếng khóc tiếc thương của con cháu.Vĩnh biệt ông, người đàn ông giữ trọn lòng chung thủy và cả đời hy sinh cho gia đình.Một năm sau, bà tôi cũng mất. Trước khi mất, bà tôi mắc bệnh mất trí nhớ của người già.Vậy mà hằng ngày, khi ai đưa đồ ăn, bà đều để dành lại phân nửa, dặn dò cho đứa cháu này, đứa cháu kia ăn.Lúc hấp hối, bà không nói được, không nhìn được nhưng nơi khóe mắt bà tôi nước mắt cứ chảy ra.
Chúng tôi đã mất cả hai Mặt Trời. Nhưng những ánh sáng soi rọi từ hai mặt trời ấy sẽ không bao giờ tắt…
• Hải Triều
Phản hồi của độc giả
Xem thêm
Thế giới song song của tuổi 17
Giấc mơ tuổi 17 đưa tôi trải qua một đời người trưởng thành cô độc, để rồi khi bừng tỉnh giữa gian bếp ngập nắng, tôi mới vỡ òa nhận ra thực tại bình dị bên bố mẹ và em gái mới là hạnh phúc vô giá nhất
Cảm ơn vì đã là một phần thanh xuân của tôi
Mười hai năm. Một chặng đường đủ dài để trở thành một phần thanh xuân. Cảm ơn tất cả. Hẹn gặp lại ở một phiên bản tốt hơn của chính mình và vẫn luôn mang theo niềm tự hào vì đã từng là một phần của đại gia đình này
Ánh Trăng Sáng Rơi Vào Lưới - Chương 1
Bữa tiệc kỷ niệm thành lập tập đoàn Hạ Thị được tổ chức tại sảnh tiệc của một khách sạn sáu sao ngay trung tâm thành phố. Tiếng ly thủy tinh va chạm lách cách, tiếng nhạc vĩ cầm du dương và những bộ lễ phục đắt đỏ của giới thượng lưu dệt nên một khung cảnh hoa lệ đến ngột ngạt.
Chiếc Vé Đến Ngày Hôm Qua
Mười năm trước, chúng tôi chỉ là những đứa trẻ mười mười tám tuổi, sở hữu cả bầu trời ước mơ ngây ngô cùng lời hứa về một chiếc vé thời gian giá hai mươi nghìn đồng. Mười năm sau, giữa cơn mưa rào tháng Bảy, liệu hai mươi nghìn đồng có giúp chúng tôi tìm lại được thanh xuân đã bỏ lỡ?
Những người không giàu_Phần 1
Có những cuộc đời sinh ra không để trở thành giàu có. Họ sống giữa phố thị hoặc làng quê, lặng thầm làm thuê, tích góp từng đồng lẻ, gánh trên vai những nỗi lo cơm áo, bệnh tật, hiếu nghĩa, và cả những giấc mơ chưa bao giờ gọi thành tên. Họ khắc khẩu, cãi vã, bướng bỉnh, yếu đuối, rồi lại ôm nhau mà cười, mà khóc, mà gắng gượng đi tiếp qua những mùa giông gió. Họ không giàu, nhưng họ dựng nên một mái nhà bằng lòng thương, bằng sự nhẫn nại và một niềm tin cũ kỹ rằng: dẫu nghèo đến đâu, cũng còn có nhau để quay về.
Hương vị bình yên
Mỗi độ hè về, mẹ lại cầm chiếc rổ tre ra vườn hái rau sắn. Tôi lon ton theo sau, vừa phụ mẹ ngắt lá, vừa nghe mẹ khe khẽ hát vài câu dân ca. Tiếng chim, tiếng gió và tiếng hát của mẹ hòa vào nhau, dệt nên bản hòa âm dịu dàng theo tôi suốt những năm tháng tuổi thơ.
Phía sau một sự dung túng dịu dàng
Đây là một tản văn kể về tình bạn khác giới kéo dài từ những năm tiểu học đến tuổi mười bảy. Không có những rung động mập mờ hay một câu chuyện tình dang dở, bài viết là hành trình nhìn lại một người bạn đã luôn kiên nhẫn, bao dung và âm thầm dung túng những vụng về, bướng bỉnh của tôi. Qua những ký ức nhỏ bé và bình dị, tôi nhận ra điều quý giá nhất thanh xuân từng dành tặng mình không phải là một mối tình, mà là một người luôn cho tôi quyền được là chính mình.



